Thứ Tư, 8 tháng 1, 2020

Công nghệ xanh và kinh tế xanh là tương lai của thế giới


Dưới tác động của số hóa nền kinh tế, các tập đoàn công nghệ của nền kinh tế không carbon sẽ trở thành các chủ thế mới của nền kinh tế tương lai.

Hội nghị lần thứ 25 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP 25) diễn ra tại Madrid, Tây Ban Nha, từ ngày 2 đến ngày 13/12 với khẩu hiệu “Thời điểm hành động”. 
Nhân dịp này, báo chí châu Âu tuần qua đã tranh luận về các tác động tiềm tàng từ một nền kinh tế xanh và bảo vệ môi trường hơn. 
Tổng hợp báo chí châu Âu những ngày này, phóng viên TTXVN tại châu Âu cho biết nhật báo Die Presse của Đức lập luận biến đổi khí hậu cũng là một cơ hội kinh tế cần nắm bắt.
 Theo báo này, dưới tác động của số hóa nền kinh tế, các tập đoàn công nghệ của nền kinh tế không carbon sẽ trở thành các chủ thế mới của nền kinh tế tương lai. 
Vì vậy, mặc dù có rất nhiều đối thủ cạnh tranh đáng gờm trong lĩnh vực sản xuất ô tô, hãng ô tô điện Tesla được thành lập năm 2003 đã trở thành hình mẫu của tất cả các hãng xe hơi trên thế giới. 
Không phải ngẫu nhiên mà công nghệ xanh được định hình và giữ vị trí chủ chốt trong chiến lược 2025 của Trung Quốc. 
Theo nhật báo Đức, châu Âu đang trong một cuộc đua công nghệ xanh quyết định và cần phải giữ để không bị các đối thủ khác vượt qua, nếu như không muốn tụt hậu so với thế giới. Để bảo vệ khí hậu, cuộc cạnh tranh này có lẽ lại là một điều may mắn. 
Trong khi đó, nhật báo Notícias của Bồ Đào Nha thì cho rằng “xanh hóa” nền kinh tế mới có thể kìm hãm sự biến đổi khí hậu. Theo báo trên, không một ai tin rằng hệ thống kinh tế hiện nay có thể giải quyết được vấn đề. 
Mọi việc sẽ không thay đổi chừng nào mọi khía cạnh của xã hội vẫn phụ thuộc vào việc bảo vệ nền tài chính, các doanh nghiệp lớn, lợi nhuận của họ và thặng dư ngân sách. 
Cũng theo nhật báo Bồ Đào Nha, không phải các ngân hàng, mà chính là khí hậu mới là mục tiêu cần ưu tiên bảo vệ. 
Nhật báo La Stampa (Italy) lại đề cập tới nước Mỹ trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, khi đưa ra một nghịch lý rằng, sự vắng mặt của Tổng thống Mỹ Donald Trump tại COP 25 lần này lại là một cơ may cho cuộc chiến chống biến đổi khí hậu trên toàn cầu. 
Theo nhật báo trên, không có ông chủ Nhà Trắng, châu Âu có được quyền tự do hành động để tranh luận với Trung Quốc thống nhất kế hoạch hành động vì môi trường, đi tiên phong trong việc chuyển đổi năng lượng, một nền công nghiệp và một thế giới lao động tuân thủ môi trường.

Các nhà khoan dầu Mỹ cắt giảm số giàn khoan tuần thứ 2 liên tiếp


Vinanet - Các công ty năng lượng Mỹ đã giảm số giàn khoan dầu hoạt động tuần thứ 2 liên tiếp do các nhà sản xuất tiếp tục kế hoạch giảm chi tiêu cho việc khoan mới.

Theo công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes, các nhà khoan dầu đã giảm 7 giàn khoan trong tuần tính tới ngày 3/1/2020, xuống 670 giàn. Trong cùng tuần một năm trước có 877 giàn hoạt động.
Mặc dù số giàn khoan dầu đang khoan giếng mỡi đã giảm trong năm 2019, sản lượng dầu của Mỹ đã tiếp tục tăng. Một phần vì năng xuất giàn khoan vẫn tăng lên mức kỷ lục tại hầu hết lưu vực đá phiến. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng sản lượng đã chậm lại.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) dự đoán sản lượng dầu thô sẽ tăng lên 12,3 triệu thùng/ngày trong năm 2019 và 13,2 triệu thùng/ngày trong năm 2020 từ mức kỷ lục 11 triệu thùng/ngày trong năm 2018.
Trong tương lai, dầu thô Mỹ sẽ giao dịch quan 60 USD/thùng năm 2020, và 55 USD/thùng trong năm 2021.
Trong khi đó, số giàn khoan khí giảm 2 giàn xuống 123 giàn, thấp nhất kể từ tháng 12/2016.
Trong năm 2019, số giàn khoan hoạt động tại Mỹ đạt trung bình 943 giàn, thấp nhất kể từ năm 2016 khi có 509 giàn hoạt động. Hầu hết các giàn khoan sản xuất cả dầu và khí đốt.
Nguồn:Reuters

Động thái của Trung Quốc trước thềm kí thỏa thuận thương mại giai đoạn 1


Trước thềm buổi ký kết thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 với Mỹ, chính quyền Bắc Kinh liên tục công bố những điều luật mở cửa cho đầu tư nước ngoài.

Ngày 30-12-2019, Hãng xe điện Tesla của Mỹ đã bàn giao lô xe điện đầu tiên sản xuất tại Trung Quốc, chưa đầy một năm sau khi động thổ xây dựng nhà máy đầu tiên bên ngoài lãnh thổ Mỹ. Nhà máy tại Thượng Hải hiện sản xuất hơn 1.000 xe điện mỗi tuần và hi vọng sẽ tăng gấp đôi công suất trong năm nay - Ảnh: REUTERS

Trung Quốc đã bắt đầu dỡ bỏ những biện pháp hạn chế chính đối với hoạt động đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực tài chính của nước này. Đây là động thái mà Mỹ lâu nay vẫn yêu cầu Trung Quốc thực hiện trong bối cảnh hai nền kinh tế hàng đầu thế giới rơi vào vòng xoáy căng thẳng thương mại suốt nhiều tháng qua. Hãng tin AFP bình luận: "Đây là tín hiệu mở cửa của kinh tế Trung Quốc".
Cụ thể, ngày 3-1, Cơ quan Quản lý hoạt động ngân hàng của Trung Quốc (CBIRC) ra tuyên bố nêu rõ từ đầu năm 2020, các ngân hàng nước ngoài có thể thành lập các chi nhánh 100% vốn nước ngoài tại Trung Quốc mà không cần phải tìm kiếm một đối tác nội địa giữ phần lớn cổ phần như trước đây. 
Lâu nay, các ngân hàng nước ngoài muốn hoạt động tại Trung Quốc buộc phải tìm một đối tác nội địa và không được phép sở hữu quá 49% cổ phần trong liên doanh. Tuyên bố trên được coi là một động thái thiện chí từ phía Trung Quốc dành cho Mỹ giữa lúc hai bên đang hướng tới việc ký kết một thỏa thuận thương mại sơ bộ giúp xoa dịu căng thẳng thương mại song phương đã kéo dài hơn một năm qua.
Thực tế là từ tháng 10-2019, Trung Quốc đã công bố lịch trình dỡ bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực tài chính. Đến tháng 12-2019, Ngân hàng UBS của Thụy Sĩ đã được cấp phép sở hữu phần lớn cổ phần trong các chi nhánh tại nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này. 
Rồi từ ngày 1-1-2020, các công ty nước ngoài chuyên lĩnh vực hợp đồng tài chính tương lai có thể đầu tư vào Trung Quốc mà không bị hạn chế số lượng vốn được nắm giữ. Theo lịch trình, các công ty quản lý vốn và các công ty môi giới tài chính sẽ lần lượt được áp dụng quy định mới từ ngày 1-4 tới và 1-12-2020.
Tiếp đến đầu tháng 3 tới là luật về các thị trường tài chính sẽ được thực thi với việc cho phép tham gia thị trường chứng khoán dễ dàng hơn, chống nạn lừa đảo, đảm bảo minh bạch hơn, chống rửa tiền, chống thông tin giả mạo để bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ lẻ...
Có thể nói trong thời gian ngắn, chính quyền Trung Quốc liên tục thông báo những điều luật mở cửa cho đầu tư nước ngoài với đảm bảo cạnh tranh công bằng, minh bạch. Ngay ngày đầu năm, Hãng tin Tân Hoa xã cũng cho biết luật về đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc bắt đầu có hiệu lực với mục tiêu bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các nhà đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc. 

Theo đó, các doanh nghiệp nước ngoài được phép đấu thầu cạnh tranh hợp pháp đối với các công trình nhà nước của Trung Quốc. Yêu cầu các doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài phải chuyển giao công nghệ cũng bị nghiêm cấm.
Một tuần lễ trước đó, chính quyền Bắc Kinh tuyên bố sẽ mở cửa hơn nữa các thị trường điện, viễn thông và dầu mỏ cho các nhà đầu tư tư nhân (dù không nói rõ có cho phép các nhà đầu tư nước ngoài hay không). 
Bắc Kinh cam kết sẽ cho phép cạnh tranh thị trường trong một số ngành công nghiệp chủ chốt như điện, viễn thông, đường sắt, dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, theo đó các doanh nghiệp tư nhân lần đầu tiên sẽ được phép xây dựng các dịch vụ viễn thông cơ bản và đầu tư vào lĩnh vực phân phối và phát điện.
Không ít nhà quan sát cho rằng những biện pháp mở cửa liên tục của Trung Quốc gần đây gắn với những yêu sách của Mỹ trong các cuộc đàm phán thương mại kéo dài hơn năm qua. Nhưng cũng không ít nhà quan sát giữ thái độ thận trọng bởi kinh nghiệm cho thấy những cam kết của chính quyền Bắc Kinh thường được triển khai chậm hoặc theo kiểu "trên trải thảm, dưới rải đinh".
Ông Adam Dunnett, tổng thư ký của Phòng thương mại Liên minh châu Âu, từng bình luận với Hãng tin kinh tế Bloomberg hôm 23-10-2019: "Các luật và quy định ở đất nước này nhìn chung rất tốt. Vấn đề là khi triển khai thì chúng bị diễn đạt theo cách khác nhau ở các cấp khác nhau".

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2020

Tăng trưởng kỷ lục 126 tháng liên tiếp, kinh tế Mỹ đang ở trong giai đoạn thăng hoa chưa từng có trong lịch sử


Các nhà kinh tế thường nói rằng "quá trình tăng trưởng không kết thúc dựa vào việc nó đã kéo dài bao lâu" (expansions don’t die of old age). Đối với những gì đã diễn ra ở nền kinh tế Mỹ trong thập kỷ qua, thì câu nói này là đúng.


Tính đến tháng 12, nền kinh tế Mỹ đã tăng trưởng ở mức kỷ lục là 126 tháng liên tiếp, khoảng thời gian dài nhất trong lịch sử của nước này, theo Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER). Nói một cách khác, thì đây là lần đầu tiên nước Mỹ đã không rơi vào tình trạng suy thoái trong cả một thập kỷ. 
Michelle Meyer, kinh tế gia trưởng tại Bank of America Merrill Lynch, cho hay: "Điều bất hường ở đây là sự phục hồi sau khủng hoảng lại bền bỉ đến như vậy."
Các nhà kinh tế đã đưa ra một số lý do giải thích tại sao đà tăng trưởng ở thời gian này lại kéo dài đến vậy. Thứ nhất, Mỹ bắt đầu từ điểm "đáy" ở cuối thập kỷ trước. Phần lớn quá trình tăng trưởng trong 10 năm qua là để bù đắp cho cuộc Đại suy thoái. David Wilcox, cựu giám đốc của Phòng Nghiên cứu và Thống kê tại Uỷ ban Dự trữ Liên bang, cho hay: "Rất khó để hình dung ra rằng thời điểm đó tồi tệ đến như thế nào."
Tăng trưởng việc làm
Ví dụ, tăng trưởng việc làm đã hồi phục chậm hơn so với sự bùng nổ của nền kinh tế trước đây, một phần vì tỷ lệ thất nghiệp quá cao khi khủng hoảng tài chính diễn ra, như một số kinh tế gia từng nói, "cái hố càng sâu thì càng khó để thoát ra ngoài."
Nhìn chung, đà phát triển của nền kinh tế bắt đầu kéo dài hơn trong giai đoạn hậu chiến. NBER - đã theo dõi sát sao các cuộc suy thoái ở Mỹ, nhận thấy rằng đà tăng trưởng đã kéo dài trung bình 58,4 tháng từ năm 1945 cho tới 2009, trong khi từ năm 1919 đến 1945 là 35 tháng. Một lý do có thể lý giải cho điều này đó là các nhà hoạch định chính sách đã đưa ra những biện pháp tốt hơn để xoay chuyển nền kinh tế, trong khi lạm phát vẫn ở mức thấp.
Wilcox, từng là cố vấn cấp cao của các chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (Fed) Ben Bernake, Janet Yellen và Jerome Powell, cho biết những nỗ lực kích thích tài chính của các nhà hoạch định chính sách trong giai đoạn khủng hoảng tài chính, như nới lỏng định lượng, là một phần quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình hồi phục nền kinh tế hiện nay.
Tăng trưởng GDP
Trong suốt thập kỷ, Fed đã giữ nguyên lãi suất đi vay ở mức thấp và dần nâng lên từ cuối năm 2015 đến 2018, đến năm 2019 đã thực hiện 3 lần hạ lãi suất nhằm đối phó với những bất ổn tác động đến nền kinh tế. Bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương ở mức khoảng 4 nghìn tỷ USD, tăng gấp 4 lần so với năm 2008.
Biện pháp kích thích tài khoá trong khi khủng hoảng diễn ra, như Chương trình Trợ cấp Tài sản xấu (TARP) và Đạo luật Hồi phục Kinh tế (ERA), cũng giúp duy trì sự hồi phục của nền kinh tế Mỹ, theo Torsten Slok - kinh tế gia trưởng tại Deutsche Bank. Ông cho hay, những động thái quyết liệt từ các nhà hoạch định chính sách Mỹ đã phần nào lý giải tại sao nền kinh tế Mỹ phục hồi với tốc độ nhanh hơn các nền kinh tế phát triển khác như châu Âu hay Nhật Bản.
Slok nhận định: "Một lý do quan trọng giúp Mỹ có đà tăng trưởng dài và mạnh mẽ đến vậy là chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ của họ, được Fed và các chính trị gia đưa ra, tạo được sự đột phá."
Một lý do khác mà các nhà kinh tế nhắc đến đó là ký ức về cuộc khủng hoảng vẫn hiện hữu đối với người tiêu dùng và các doanh nghiệp, khiến họ lo sợ về rủi ro hơn và cảnh giác đối với cuộc suy thoái tiếp theo. Điều này có nghĩa là tình trạng mất cân đối trong hệ thống tài chính là không lớn, đã giúp đà phục hồi diễn ra lâu hơn. Tuy nhiên, đây cũng chính là yếu tố phần nào kiến tăng trưởng kinh tế yếu hơn trong thập kỷ vừa qua. Dù phá vỡ kỷ lục về khoảng thời gian diễn ra, nhưng tăng trưởng của Mỹ đã chậm hơn nhiều so với với những đợt bùng nổ trước đây.
Michelle Meyer nhận định: "Ở thời điểm này, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ không còn vượt trội nữa - có nghĩa là chu kỳ như trước đây có thể tiếp tục diễn ra."
Tăng trưởng tiền lương
Đà tăng trưởng kéo dài hiện tại vẫn phải đối mặt với nhiều rủi ro, ví dụ như lãi suất thấp kỷ lục đã đưa lượng nợ lên mức cao nhất từ trước đến nay. Slok cho hay: "Có nhiều cuộc thảo luận trên thị trường tài chính về việc liệu đà tăng trưởng có thể tiếp tục hay không, đặc biệt là liệu nước Mỹ có quá 'yếu ớt' trong giai đoạn này vì nợ sinh viên và nợ doanh nghiệp đã lên mức quá cao?"
Những "cơn gió ngược" khác bao gồm rủi ro chính trị, bất ổn thương mại và đà tăng trưởng yếu kém ở những nền kinh tế khác. Bất bình đẳng về thu nhập và giàu - nghèo cũng đang gióng lên hồi chuông cảnh báo cho các nhà đầu tư và chính trị gia.
Dẫu vậy, một số vẫn kỳ vọng rằng, chừng nào các nhà hoạch định chính sách vẫn cảnh giác thì, Mỹ sẽ tiếp tục phá vỡ kỷ lục. Josh Bivens, giám đốc nghiên cứu của Viện Chính sách Kinh tế, cho biết: "Các cuộc suy thoái thường có nguyên nhân từ những sai lầm về chính sách. Chúng ta thực sự có thể giữ vững giai đoạn hồi phục trong một khoảng thời gian khá dài, nếu có chính sách khôn ngoan và cẩn trọng."

Nền kinh tế nào đóng góp vào tăng trưởng toàn cầu nhiều nhất năm 2019?


Các kinh tế châu Á chiếm 63% tỷ lệ tăng trưởng năm 2019, trong đó Trung Quốc chiếm 33%.Châu Á chiếm 34% tỷ trọng GDP toàn cầu.Mỹ và châu Âu từng chiếm 51% GDP toàn cầu. Hiện nay, hai khu vực này chiếm 31%.

Kinh tế toàn cầu là trò chơi của các con số. Chừng nào quy mô của nó còn mở rộng và tăng trưởng, các công ty có thể luân chuyển nguồn tài nguyên cho những phân khúc đang phát triển, nhà đầu tư có thể rót vốn và nhìn khoản đầu tư của mình mang về lợi nhuận. Có thể nói sự tăng trưởng là "liều thuốc" chữa lành mọi thứ - chỉ khi kinh tế ngừng tăng trưởng, mọi thứ mới bắt đầu trở nên khó khăn.
Dựa vào dữ liệu từ Standard Chartered và IMF, infographic sau cho thấy mức độ tăng trưởng kinh tế năm 2019 qua việc sử dụng lý thuyết ngang giá sức mua (PPP) đồng thời so sánh tỷ lệ chiếc bánh GDP toàn cầu được phân chia ra sao bởi các quốc gia và khu vực quan trọng theo thời gian.

Những nền kinh tế Châu Á sẽ tăng trưởng nhanh nhất năm 2020


ADB cho biết căng thẳng thương mại kéo dài vẫn là rủi ro chính đối với triển vọng của khu vực, nhưng một số quốc gia được dự kiến sẽ chứng kiến sự tăng trưởng vượt trội so với các nước láng giềng vào năm tới.


Cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc cùng với sự suy giảm hoạt động thương mại trên toàn cầu đang gây ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế của châu Á, khiến Ngân hàng Phát triển Châu Á đưa ra dự báo thận trọng hơn cho khu vực này. ADB hiện dự đoán kinh tế châu Á sẽ tăng trưởng 5,5% trong năm 2020.
ADB cho biết căng thẳng thương mại kéo dài vẫn là rủi ro chính đối với triển vọng của khu vực, nhưng một số quốc gia được dự kiến sẽ chứng kiến sự tăng trưởng vượt trội so với các nước láng giềng vào năm tới. Đây là những nền kinh tế được dự đoán có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất vào năm 2020:
1. Bangladesh
Bangladesh được dự báo tăng trưởng GDP 8% nhờ vào sự gia tăng vốn FDI vào hàng dệt may, hàng may mặc và giày dép giá rẻ. Đất nước này đã tăng trưởng ít nhất 6% mỗi năm kể từ năm 2011. Mức lương trung bình chỉ 101 USD mỗi tháng giúp mang lại một số khoản đầu tư đó. Nhu cầu trong nước và mức sống cao hơn cũng là tác nhân kích thích tăng trưởng của quốc gia Nam Á này, theo Rajiv Biswas, nhà kinh tế về châu Á Thái Bình Dương cho biết. 
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng 19,5% trong nửa đầu năm 2019 , đạt 1,7 tỷ USD nhờ việc kinh doanh ngày càng dễ dàng, theo báo cáo từ phương tiện truyền thông địa phương.
2. Ấn Độ
Ấn Độ sẽ tăng trưởng 7,2% khi đất nước này đang tìm cách trở thành một cường quốc mới về sản xuất hàng hóa bao gồm cả thiết bị điện tử, tùy theo chính sách của chính phủ. Tốc độ tăng trưởng GDP 7,2% sẽ đánh dấu mức giảm từ 8,17% trong năm 2016, và xấp xỉ mức tăng trưởng của hai năm qua, theo số liệu của Ngân hàng thế giới. 
Sự sụt giảm sản lượng của tám ngành công nghiệp cốt lõi, mà một trong số đó là do thiếu tiền, sẽ là rào cản cho việc tăng trưởng nhanh hơn vào năm 2020. Tuy nhiên, ngân hàng trung ương đã đưa ra các biện pháp kích thích tiền tệ và giảm thuế trong năm nay nhằm khắc phục điều đó.
3. Tajikistan
Tjikistan được dự báo sẽ tăng trưởng 7%, khi mà nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ này hưởng lợi từ hoạt động khai thác các mỏ vàng và bạc, luyện kim và lượng tiền chuyển về từ khoảng một triệu công dân sinh sống ở nước ngoài. GDP của Tajikistan đã tăng 6,9% trong năm 2016, 7,1% vào năm 2017 và 7,3% vào năm ngoái. Ngân hàng thế giới cho biết, chính ngành công nghiệp và dịch vụ, cùng với nhu cầu nội địa cao, đã dẫn dắt sự tăng trưởng.
4. Myanmar
Nền kinh tế Myanmar sẽ tăng trưởng 6,8%. Đất nước có GDP chỉ 67 tỷ USD này đang có mức xuất phát điểm tương đối thấp. Kim ngạch xuất khẩu của Myanmar đã tăng trưởng nhanh chóng trong 5 năm qua,  giúp hỗ trợ tốc độ tăng trưởng kinh tế, theo ông Biswas cho biết. Quốc gia Đông Nam Á này đang áp dụng các cải cách kinh tế nhằm thu hút đầu tư nhiều hơn. Chi phí cơ sở hạ tầng và chi tiêu tiêu dùng cũng đang góp phần tăng GDP. 
5. Campuchia
Campuchia dự kiến sẽ tăng trưởng 6,8%. Đầu tư của Trung Quốc vào Campuchia đã thúc đẩy tăng trưởng GDP của quốc gia Đông Nam Á có 16,5 triệu dân này, mà chủ yếu là vào ngành sản xuất hàng may mặc như ở Myanmar và Bangladesh. Các nhà đầu tư Trung Quốc đang bổ sung bất động sản, khu nghỉ dưỡng ven biển và cơ sở hạ tầng như đường xá và cuối cùng là hai sân bay vào danh mục đầu tư. Trung Quốc đã đầu tư khoảng 2 tỷ USD vào cơ sở hạ tầng của Campuchia trong năm 2018. Nhưng tăng trưởng 6,8% vẫn thua kém con số 7% được Ngân hàng thế giới dự đoán hàng năm.
6. Việt Nam
Việt Nam sẽ tăng trưởng 6,7% trong năm tới. Kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng hơn 6% mỗi năm kể từ năm 2012, đang làm rất nhiều việc Bangladesh làm nhưng dịch chuyển sang các mặt hàng sản xuất mang lại giá trị gia tăng cao hơn như điện tử. Dòng vốn đầu tư nước ngoài vẫn là động cơ tăng trưởng cho nền kinh tế, với mức tăng 69,1% so với năm ngoái, đạt mức 16,74 tỷ USD.
Các nền kinh tế châu Á đang phát triển khác mà ADB dự báo sẽ tăng trưởng hơn 6% bao gồm Nepal và Maldives ở mức 6,3%, Lào và Philippines đều ở mức 6,2% và Mông Cổ ở mức 6,1%.
Theo Forbes

Thế giới bất ổn, vàng lên cao nhất 6 năm, giá dầu lên gần 70 USD, chứng khoán đồng loạt lao dốc


Tình hình ở Trung Đông đang rất căng thẳng. Trong diễn biến mới nhất, chính phủ Iran đã chính thức tuyên bố rút khỏi thỏa thuận hạt nhân lịch sử.


Giá vàng đã tăng lên mức cao nhất hơn 6 tháng do tình hình căng thẳng ở Trung Đông leo thang thổi bùng lên những lo ngại về địa chính trị và đi kèm theo đó là nhu cầu về tài sản an toàn tăng cao. Giá palladium cũng nối dài đà tăng.
Giá vàng giao ngay có lúc tăng 2,3%, lên 1.588,13 USD 1 ounce, cao nhất kể từ tháng 4/2013. Tính đến 7h22 sáng nay (6/1) theo giờ địa phương tại Singapore, mức tăng còn 1,5%, giao dịch ở mức 1.575,36 USD 1 ounce, trong khi giá vàng tương lai tăng 2,5%, lên 1.590,90 USD/ounce.
Giá palladium cũng tăng vọt 1,2%, lên mức cao kỷ lục 2.013,90 USD/ounce. Giá các kim loại quý khác như bạc và platinum cũng tăng mạnh.
Các tài sản an toàn khác cũng nhanh chóng tăng giá. Đồng yên Nhật hiện đang leo lên mức cao nhất 3 tháng. Trái phiếu Mỹ tăng giá.
Ngược lại, sắc đỏ bao trùm chứng khoán toàn cầu. Các thị trường Nhật Bản, Australia và Hàn Quốc đồng loạt giảm điểm trong khi hợp đồng tương lai các chỉ số chứng khoán Mỹ lao dốc. Nikkei 225 giảm 1,85%, Topix giảm 1,48% trong khi Kospi giảm 0,83%. Trong phiên giao dịch cuối tuần trước, S&P 500 đã giảm mạnh nhất trong 1 tháng.
Giá dầu tiếp tục "nhảy múa" sau khi Mỹ cảnh báo Iran có thể tấn công Saudi Arabia để trả đũa. Giá dầu tương lai tăng phiên thứ hai liên tiếp, lên gần 70 USD/thùng ở London. Bộ Ngoại giao Mỹ phát đi thông báo cho biết có "nguy cơ cao" sẽ có những vụ tấn công bằng tên lửa ở gần các căn cứ quân sự và nhà máy dầu ở Saudi Arabia, làm dấy lên lo ngại khu vực sản xuất dầu quan trọng nhất của thế giới sẽ bị gián đoạn nguồn cung.
Tình hình ở Trung Đông đang rất căng thẳng. Trong diễn biến mới nhất, chính phủ Iran đã chính thức tuyên bố rút khỏi thỏa thuận hạt nhân lịch sử, theo đó sẽ không tiếp tục tuân thủ bất kỳ giới hạn nào về hoạt động làm giàu uranium sau sự kiện chỉ huy quân sự cấp cao Qassem Soleimani của nước này bị sát hại trong một đợt không kích. Trong khi đó Iraq ra nghị quyết chấm dứt sự hiện diện của binh sỹ nước ngoài.
Về phía Mỹ, Tổng thống Mỹ Donald Trump cũng có những động thái cứng rắn khi ông tuyên bố với các nhà làm luật nước này rằng ông sẵn sàng tấn công Iran "theo cách không cân xứng" nếu như nước này trả đũa và nhằm vào bất kỳ mục tiêu Mỹ nào.
Sau khi ghi nhận 1 năm tăng giá mạnh nhất trong gần 1 thập kỷ trong năm 2019 do đồng USD yếu hơn, lãi suất giảm và những tác động tiêu cực của chiến tranh thương mại lên đà tăng trưởng của kinh tế toàn cầu, vàng đang khởi đầu năm 2020 một cách đầy mạnh mẽ.
Theo Bloomberg